Diễn Đàn Tin Học » Tutorial Room » Phần cứng Memory-RAM - Một số thuật ngữ và kỹ thuật Ghi chú: Bài viết đồng thời được lưu trữ ở http://www.diendantinhoc.net/tute/phancung/ram-rongreu/index.html
System memory: khi ta nói đến "memory" thì có lẽ hơi mơ hồ và khó hiểu
cho rất nhiều bạn, nhất là những bạn chưa có quen biết vi cấu trúc máy tính
nhiều. Thực ra từ memory trong quá khứ được diễn tả như đại diện cho tất cả
"vùng nhớ" trong computer ngoại trừ CPU. Ðó là trong quá khứ khi mà vi tính chưa
phát triễn mạnh mẽ, chứ nếu dùng từ memory mà đề cập trong những thế hệ máy tính
hiện nay thì danh từ nầy hoàn toàn mù mờ và không chích xác diễn tả các bộ phận
trong máy vi tính nửa. Chúng ta có RAM, ROM, DRAM, SRRAM, DDR SDRAM... Ðể
tránh sự lẫn lộn, tôi xin phép diễn tả ngắn gọn về memory và các thuật ngữ liên
quan để bạn hiểu rõ.
Memory: Memory đơn giản là một thiết bị nhớ nó có thể ghi và chứa thông
tin. ROM, RAM, Cache, Hard disk, Floppy disk, CD.... đều có thể gọi là memory cả
(vì nó vẫn lưu thông tin). Dù là loại memory nào bạn cũng nên để ý đến các tính
chất sau đây:
- Sức chứa: thiết bị có thể chứa được bao nhiêu? Ví dụ: CD chứa được
650MB-700MB, Floppy disk chứa được 1.4MB, Cache chứa được 256KB...
- tốc độ truy nhập: bạn nên lưu ý đến tốc độ vận truyền thông tin của
thiết bị. Bạn có memory loại "chạy lẹ" khi mà thời gian truy cập thông tin
ngắn hơn. Đây là phần quan trọng quyết định tốc độ truy cập của thiết bị. Ví
dụ đơn giản là nếu bạn có con CPU chạy tốc độ 1.5Ghz trong khi đó hard disk
của bạn thuộc loại "rùa bò" thì dù CPU có lẹ đến đâu nó cũng đàng phải....chờ
thôi!
Tính về tốc độ thì CPU bao giờ cũng lẹ nhất, sau đó là Cache, sau nữa là các
loại RAM.
- Interface: bạn nên xem cấu trúc bên ngoài của memory nó có phù hợp
với (ăn khớp) các thiết bị khác của bạn không. Ví dụ, nhiều loại RAM
tren thị trường có số chân cắm và đặc tính khác nhau. Để phù hợp cho
motherboard của bạn, bạn nên xem xét motherboard trước khi mua memory.
Các loại memory
ROM (Read Only Memory)
Ðây là loại memory dùng trong các hãng sãn xuất là chủ yếu. Nó có đặc tính là
thông tin lưu trữ trong ROM không thể xoá được và không sửa được, thông tin sẽ
được lưu trữ mãi mãi. Nhưng ngược lại ROM có bất lợi là một khi đã cài đặt thông
tin vào rồi thì ROM sẽ không còn tính đa dụng (xem như bị gắn "chết" vào một nơi
nào đó). Ví dụ điển hình là các con "chip" trên motherboard hay là BIOS ROM để
vận hành khi máy vi tính vừa khởi động.
PROM (Programmable ROM)
Mặc dù ROM nguyên thủy là không xoá/ghi được, nhưng do sự tiến bộ trong khoa
học, các thế hệ sau của ROM đã đa dụng hơn như PROM. Các hãng sản xuất có thể
cài đặt lại ROM bằng cách dùng các loại dụng cụ đặc biệt và đắt tiền (khả năng
người dùng bình thường không thể với tới được). Thông tin có thể được "cài" vào
chip và nó sẽ lưu lại mãi trong chip. Một đặc điểm lớn nhất của loại PROM là
thông tin chỉ cài đặt một lần mà thôi. CD có thể được gọi là PROM vì chúng ta có
thể copy thông tin vào nó (một lần duy nhất) và không thể nào xoá được.
EPROM (Erasable Programmable ROM)
Một dạng cao hơn PROM là EPROM, tức là ROM nhưng chúng ta có thể xoá và viết lại
được. Dạng "CD-Erasable" là một điển hình. EPROM khác PROM ở chổ là thông tin có
thể được viết và xoá nhiều lần theo ý người xử dụng, và phương pháp xoá là
hardware (dùng tia hồng ngoại xoá) cho nên khá là tốn kém và không phải ai cũng
trang bị được.
EEPROM (Electronic Erasable Programmable ROM)
Ðây là một dạng cao hơn EPROM, đặt điểm khác biệt duy nhất so với EPROM là có
thể ghi và xoá thông tin lại nhiều lần bằng software thay vì hardware.
Ví dụ điển hình cho loại EPROM nầy là "CD-Rewritable" nếu bạn ra cửa hàng mua
một cái CD-WR thì có thể thu và xoá thông tin mình thích một cách tùy ý. Ứng
dụng của EEPROM cụ thể nhất là "flash BIOS". BIOS vốn là ROM và flash BIOS tức
là tái cài đặt thông tin (upgrade) cho BIOS. Cái tiện nhất ở phương pháp nầy là
bạn không cần mở thùng máy ra mà chỉ dùng software điều khiển gián tiếp.
RAM (Random Access Memory)
Rất nhiều người nghĩ là RAM khác với ROM trên nhiều khía cạnh nhưng thực tế RAM
chẳng qua là thế hệ sau của ROM mà thôi. Cả RAM và ROM đều là "random access
memory" cả, tức là thông tin có thể được truy cập không cần theo thứ tự. Tuy
nhiên ROM chạy chậm hơn RAM rất nhiều. Thông thường ROM cần trên 50ns để vận
hành thông tin trong khi đó RAM cần dưới 10ns (do cách chế tạo). Tôi sẽ trở lại
với phần "shadow BIOS ROM" sau nầy.
SRAM (Static RAM) và DRAM (Dynamic RAM)
SRAM là loại RAM lưu giữ data mà không cần cập nhật thường xuyên (static) trong
khi DRAM là loại RAM cần cập nhật data thường xuyên (high refresh rate). Thông
thường data trong DRAM sẽ được refresh (làm tươi) nhiều lần trong một second để
lưu giử lại những thông tin đang lưu trữ, nếu không refresh lại DRAM thì dù
nguồn điện không ngắt, thông tin trong DRAM cũng sẽ bị mất.
SRAM chạy lẹ hơn DRAM. Nhiều người có thể lầm lẫn là DRAM là "dynamic" cho
nên ưu việt hơn. Điều đó không đúng. Trên thực tế, chế tạo SRAM tốn kém hơn hơn
DRAM và SRAM thường có kích cỡ lớn hơn DRAM, nhưng tốc độ nhanh hơn DRAM vì
không phải tốn thời gian refresh nhiều lần. Sự ra đời của DRAM chỉ là một lối đi
vòng để hạ giá sản xuất của SRAM (tôi sẽ nói rõ hơn về bên trong CPU, DRAM, và
SRAM).
FPM-DRAM (Fast Page Mode DRAM)
Ðây là một dạng cải tiến của DRAM, về nguyên lý thì FPM DRAM sẽ chạy lẹ hơn DRAM
một tí do cải tiến cách dò địa chỉ trước khi truy cập thông tin. Những loại RAM
như FPM hầu như không còn sản xuất trên thị trường hiện nay nữa.
EDO-DRAM (Extended Data Out DRAM)
Là một dạng cải tiến của FPM DRAM, nó chạy lẹ hơn FPM DRAM một nhờ vào một số
cải tiến cách dò địa chỉ trước khi truy cập data. Một đặc điểm nữa của EDO DRAM
là nó cần support của system chipset. Loại memory nầy chạy với máy 486 trở lên
(tốc độ dưới 75MHz). EDO DRAM cũng đã quá cũ so với kỹ thuật hiện nay.
EDO-DRAM chạy lẹ hơn FPM-DRAM từ 10 - 15%.
BDEO-DRAM (Burst Extended Data Out DRAM)
Là thế hệ sau của EDO DRAM, dùng kỹ thuật "pineline technology" để rút ngắn thời
gian dò địa chỉ của data. Nếu các bạn để ý những mẫu RAM tôi giới thiệu trên
theo trình tự kỹ thuật thì thấy là hầu hết các nhà chế tạo tìm cách nâng cao tốc
độ truy cập thông tin của RAM bằng cách cải tiến cách dò địa chỉ hoặt cách chế
tạo hardware. Vì việc giải thích về hardware rất khó khăn và cần nhiều kiến thức
điện tử cho nên tôi chỉ lướt qua hoặc trình bày đại ý. Nhiều mẩu RAM tôi
trình bày có thể không còn trên thị trường nữa, tôi chỉ trình bày để bạn có một
kiến thức chung mà thôi.
SDRAM (Synchronous DRAM)
Ðây là một loại RAM có nguyên lý chế tạo khác hẳn với các loại RAM trước. Như
tên gọi của nó là "synchronous" DRAM, synchronous có nghĩa là đồng bộ, nếu bạn
học về điện tử số thì sẽ rõ hơn ý nghĩ của tính đồng bộ.
Synchronous là một khái niệm rất quan trọng trong lĩnh vực digital, trong giới
hạn về chuyên môn tôi cũng rất lấy làm khó giải thích. Bạn chỉ cần biết là RAM
hoạt động được là do một memory controller (hay clock controller), thông tin sẽ
được truy cập hay cập nhật mổi khi clock (dòng điện) chuyển từ 0 sang 1,
"synchronous" có nghĩa là ngay lúc clock nhảy từ 0 sang 1 chứ không hẳn
là clock qua 1 hoàn toàn (khi clock chuyển
từ 0 sang 1 hay ngược lại, nó cần 1 khoảng thời gian interval, tuy vô cùng ngắn
nhưng cũng mất 1 khoảng thời gian, SDRAM không cần chờ khoảng interval này kết
thúc hoàn toàn rồi mới cập nhật thông tin, mà thông tin sẽ được bắt đầu cập nhật
ngay trong khoảng interval). Do kỹ thuật chế tạo mang tính bước ngoặc nầy,
SDRAM và các thế hệ sau có tốc độ cao hơn hẳn các loại DRAM trước.
Đây là loại RAM thông dụng nhất trên thị trường hiện nay, tốc độ 66-100-133Mhz.
DDR SDRAM (Double Data Rate SDRAM)
Ðây là loại memory cải tiến từ SDRAM. Nó nhân đôi tốc độ truy cập của SDRAM bằng
cách dùng cả hai quá trình đồng bộ khi clock chuyển từ 0 sang 1 và từ 1 sang
0. Ngay khi clock của memory chuyển từ 0 sang 1 hoặc từ 1 sang 0 thì thông tin
trong memory được truy cập.
Loại RAM này được CPU Intel và AMD hỗ trợ, tốc độ hiện tại vào khoảng 266Mhz.
(DDR-SDRAM đã ra đời trong năm 2000)
DRDRAM (Direct Rambus DRAM)
Ðây lại là một bước ngoặc mới trong lĩnh vực chế tạo memory, hệ thống Rambus
(cũng là tên của một hãng chế tạo nó) có nguyên lý và cấu trúc chế tạo hoàn toàn
khác loại SDRAM truyền thống. Memory sẽ được vận hành bởi một hệ thống phụ gọi
là Direct
Rambus Channel có độ rộng 16 bit và một clock 400MHz điều khiển. (có thể lên
800MHz)
Theo lý thuyết thì cấu trúc mới nầy sẽ có thể trao đổi thông tin với tốc độ
800MHz x 16bit = 800MHz x 2 bytes = 1.6GB/giây. Hệ thống Rambus DRAM như thế nầy
cần một serial presence detect (SPD) chip để trao đổi với motherboard. Ta thấy
kỹ thuật mới nầy dùng 16bits interface, trông trái hẳn với cách chế tạo truyền
thống là dùng 64bit cho memory, bởi thế kỹ thuật Rambus (sở hữu chủ của Rambus
và Intel) sẽ cho ra đời loại chân Rambus Inline Memory Module (RIMM)
tương đối khác so với memory truyền thống.
Loại RAM này hiện nay chỉ được hỗ trợ bởi CPU Intel Pentum IV, khá đắt, tốc độ
vào khoảng 400-800Mhz
SLDRAM (Synchronous-Link DRAM)
Là thế sau của DRDRAM, thay vì dùng Direct Rambus Channel với chiều rộng
16bit và tốc độ 400MHz, SLDRAM dùng bus 64bit chạy với tốc độ 200MHz. Theo lý
thuyết thì hệ thống mới có thể đạt được tốc độ 400Mhz x 64 bits = 400Mhz x 8
bytes = 3.2Gb/giây, tức là gấp đôi DRDRAM. Ðiều thuận tiện là là SLDRAM được
phát triển bởi một nhóm 20 công ty hàng đầu về vi tính cho nên nó rất da dụng và
phù hợp nhiều hệ thống khác nhau.
VRAM (Video RAM)
Khác với memory trong hệ thống và do nhu cầu về đồ hoạ ngày càng cao, các hãng
chế tạo graphic card đã chế tạo VRAM riêng cho video card của họ mà không cần
dùng memory của hệ thống chính. VRAM chạy lẹ hơn vì ừng dụng Dual Port
technology nhưng đồng thời cũng đắt hơn rất nhiều.
SGRAM (Synchronous Graphic RAM)
Là sản phẩm cải tiến của VRAM mà ra, đơn giản nó sẽ đọc và viết từng block thay
vì từng mảng nhỏ.
Flash Memory
Là sản phẩm kết hợp giửa RAM và hard disk. Có nghĩa là Flash memory có thể chạy lẹ như SDRAM
mà và vẫn lưu trữ được data khi power off.
PC66, PC100, PC133, PC1600, PC2100, PC2400....
Chắc khi mua sắm RAM bạn sẽ thấy họ đề cập đến những từ như trên. PC66, 100,
133MHz thì bạn có thể hiểu đó là tốc độ của hệ thống chipset của motherboard. Nhưng PC1600,
PC2100, PC2400 thì có vẻ hơi...cao và quái lạ! Thực ra những từ nầy ra đời khi
kỹ thuật Rambus phát triển. Ðặt điểm của loại motherboard nầy là dùng loại
DDR SDRAM (Double Data Rate Synchronous Dynamic RAM). Như đã đề cập ở phần
trên, DDR SDRAM sẽ chạy gấp đôi (trên lý thuyết) loại RAM bình thường vì nó dùng
cả rising and falling edge của system clock. Cho nên PC100 bình thường sẽ
thành PC200 và nhân lên 8 bytes chiều rộng của DDR SDRAM: PC200 * 8 = PC1600. Tương tự PC133 sẽ là
PC133 * 2 * 8bytes = PC2100 và PC150 sẽ là
PC150 * 2 * 8 = PC2400.
BUS: gồm nhiều dây dẫn điện nhỏ gộp lại, là hệ thống hành lang để dẫn data từ
các bộ phận trong computer (CPU, memory, IO devices). BUS có chứa năng như
hệ thống ống dẫn nước, nơi nào ống to thì nước sẽ chạy qua nhiều hơn, còn sức
nước mạnh
hay yếu là do các bộ phận khác tạo ra.
FSB (Front Side Bus) hành lang chạy từ CPU tới main memory
BSB (Back Side Bus) hành lang chạy từ memory controller tới L2 (Cache level 2)
Cache memory
Là loại memory có dung lượng rất nhỏ (thường nhỏ hơn 1MB) và chạy rất lẹ (gần
như tốc độ của CPU). Thông thường thì Cache memory nằm gần CPU và có nhiệm
vụ cung cấp những data thường (đang) dùng cho CPU. Sự hình thành của Cache
là một cách nâng cao hiệu quả truy cập thông tin của máy tính mà thôi.
Những thông tin bạn thường dùng (hoặc đang dùng) thường được chứa trong Cache,
mổi khi xử lý hay thay đổi thông tin, CPU sẽ dò trong Cache memory trước xem có
tồn tại hay không, nếu có nó sẽ lấy ra dùng lại còn không thì sẽ tìm tiếp vào
RAM hoặc các bộ phận khác. Lấy một ví dụ đơn giản là nếu bạn mở Microsoft
Word lên lần đầu tiên sẽ thấy hơi lâu nhưng mở lên lần thứ nhì thì lẹ hơn rất
nhiều vì trong lần mở thứ nhất các lệnh (instructions) để mở Microsoft Word đã
được lưu giữ trong Cache, CPU chỉ việc tìm nó và xài lại thôi.
Lý do Cache memory nhỏ là vì nó rất đắt tiền và chế tạo rất khó khăn bởi nó gần như là CPU
(về cấu thành và tốc độ). Thông thường Cache memory nằm gần CPU, trong nhiều
trường hợp Cache memory nằm trong con CPU luôn. Người ta gọi Cache Level
1 (L1), Cache level 2 (L2)...là do vị trí của nó gần hay xa CPU. Cache L1 gần
CPU nhất, sau đó là Cache L2...
Interleave
Là một kỹ thuật làm tăng tốc độ truy cập thông tin bằng giảm bớt thời gian nhàn
rổi của CPU. Ví dụ, CPU cần đọc thông tin thông từ hai nơi A và B khác
nhau, vì CPU chạy quá lẹ cho nên A chưa kịp lấy đồ ra CPU phải chờ rồi! A
thấy CPU chờ thì phiền quá mới bảo CPU sang B đòi luôn sau đó trỡ lại A lấy cũng
chưa muộn! Bởi thế CPU có thể rút bớt thời gian mà lấy được đồ ở cả A và B. Toàn bộ nghĩa interleave là vậy.
Bursting
Cũng là một kỹ thuật khác để giảm thời gian truyền tải thông tin trong máy tính.
Thay vì CPU lấy thông tin từng byte một, bursting sẽ giúp CPU lấy thông tin mỗi
lần là một block.
ECC (Error Correction Code)
Khi mua RAM bạn có thể thấy cụm từ nầy mô tả phụ thêm vào loại RAM. Ðây là
một kỹ thuật để kiểm tra và sửa lổi trong trường hợp 1 bit nào đó của memory bị
sai giá trị trong khi lưu chuyển data. Những loại RAM có ECC thường dùng
cho các loại computer quan trọng như server. Tuy nhiên không có ECC cũng
không phải là mối lo lớn vì theo thống kê 1 bit trong memory có thể bị sai giá
trị khi chạy trong gần 750 giờ, người tiêu dùng bình thường như chúng ta đâu có
ai mở máy liên tục tới...1 tháng đâu chớ!
Register và Buffer (cùng như nhau)
Ðôi khi mua memory bạn có thể thấy người bán đề cập đến tính chất của memory là
có buffer, register...Buffer và Register chủ yếu dùng để quản lý các
modules trên RAM. Trông hình vẽ dưới chắc bạn cũng sẽ nhận ra được loại
RAM có buffer. Loại RAM có buffer hay register thì sẽ chạy chậm hơn loại
RAM không có buffer hay register một ít.
CAS (Column Address Strobe) latency
Latency nghĩa là khoảng thời gian chờ đợi để làm cái gì đó, CAS latency là
thuật
ngữ diễn tả sự delay trong việc truy cập thông tin của memory và được tính bằng
clock cycle. Ví dụ, CAS3 là delay 3 "clock cycle". Trong quá khứ các
nhà sản xuất cố gắng hạ thấp chỉ số delay xuống nhưng nó sẽ tỷ lệ nghịch với giá
thành sản phẩm.
Cách tính dung lượng của memory (RAM)
Thông thường RAM có hai chỉ số, ví dụ, 32Mx4. Thông số đầu biểu thị số
hàng (chiều sâu) của RAM trong đơn vị
Mega Bit, thông số thứ nhì biểu thị số cột (chiều ngang) của RAM. 32x4 = 32MegaBit x 4 cột = 128 Mega Bit = 128/8 Mega Bytes = 16MB. Có nhiều bạn có thể lầm tưởng thông số đầu là Mega Bytes nhưng kỳ thực các
hãng sãn xuất mặc định nó là Mega Bit, bạn nên lưu nhớ cho điều nầy khi mua RAM. Ví dụ, 32Mx64 RAM tức là một miếng RAM 256MB.
Số Pin của RAM
Khi chọn RAM, ngoài việc chú ý tốc độ, sức
chứa, ta phải coi số Pin của nó. Thông thường sốPin của RAM là (tuỳ vào
loại RAM): 30, 72, 144, 160, 168, 184 pins.
SIMM (Single In-Line Memory Module)
Ðây là loại ra đời sớm và có hai loại hoặc là 30 pins hoặc là 72 pins.
Người ta hay gọi rõ là 30-pin SIMM hoặc 72-pin SIMM. Loại RAM (có cấu hình
SIMM) nầy thường tải thông tin mỗi lần 8bits, sau đó phát triễn lên 32bits. Bạn cũng không cần quan tâm lắm đến cách vận hành của nó, nếu ra ngoài thị
trường bạn chỉ cần nhận dạng SIMM khi nó có 30 hoặc 72 pins. Loại
72-pin SIMM có chiều rộng 41/2" trong khi loại 30-pin SIMM có chiều rộng 31/2"
(xem hình).
DIMM (Dual In-line Memory Modules)
Cũng gần giống như loại SIMM mà thôi nhưng có số pins là 72 hoặc 168. Một
đặc điểm khác để phân biệt DIMM với SIMM là cái chân (pins) của SIMM dính lại
với nhau tạo thành một mảng để tiếp xúc với memory slot trong khi DIMM có các
chân hoàn toàn cách rời độc lập với nhau. Một đặc điểm phụ nửa là DIMM
được cài đặt thẳng đứng (ấn miếng RAM thẳng đứng vào memory slot) trong khi SIMM
thì ấn vào nghiêng khoảng 45 độ. Thông thường loại 30 pins tải data
16bits, loại 72 pins tải data 32bits, loại 144 (cho notebook) hay 168 pins tải
data 64bits. (xem hình)
SO DIMM (Small Outline DIMM)
Ðây là loại memory dùng cho notebook, có hai loại pin là 72 hoặc 144. Nếu
bạn để ý một tý thì thấy chúng có khổ hình nhỏ phù hợp cho notebook. Loại
72pins vận hành với 32bits, loại 144pins vận hành với 64bits.
RIMM (Rambus In-line Memory Modules) và SO RIMM (RIMM dùng cho notebook)
Là technology của hãng Rambus, có 184 pins (RIMM) và 160 pins (SO RIMM) và
truyền data mỗi lần 16bit (thế hệ củ chỉ có 8bits mà thôi) cho nên chạy nhanh
hơn các loại củ. Tuy nhiên do chạy với tốc độ cao, RIMM memory tụ nhiệt rất cao
thành ra lối chế tạo nó cũng phải khác so với các loại RAM truyền thống. Như hình vẽ bên dưới bạn sẽ thấy miến RAM có hai thanh giải nhiệt kẹp hai bên
gọi là heat speader. Nếu bạn dùng Pentium 4 sẽ gặp loại RAM nầy. (xem hình)
Bài viết được cung cấp bởi RongReu.
Viết cho Diễn đàn tin học |